Bác Lữ Văn Phiệt, thương binh 2/4
Nhập ngũ tháng 6/1974, bác Phiệt được biên chế vào Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 9, Sư đoàn 22, Quân khu 4 huấn luyện tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, sau khi được huấn luyện thành thạo tân binh 4 tháng, bác nhớ lại: “Lúc Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toàn hạ đạt mệnh lệnh hành quân và Chính trị viên làm công tác tư tưởng thời trai trẻ ai cũng hừng hực khí thế ngút trời”, tất cả chuẩn bị chiến lược cả thế và lực, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Đến tháng 10/1974 bác cùng đồng đội được điều chuyển vào phía nam và được biên chế vào Trung đội 3, Đại đội 1, Trung đoàn Công binh thuộc Sư đoàn 316 - Sư đoàn chủ lực có Truyền thống 12 chữ vàng: “Trung thành - Tự lực - Đoàn kết - Kiên cường - Sáng tạo - Chiến thắng”. Tháng ngày 4/3/1975, Sư đoàn nhận lệnh hành quân bí mật vào Tây Nguyên, chuẩn bị cho trận đánh chiến lược tại Buôn Ma Thuột.
Sư đoàn 316 là lực lượng chủ chốt trong trận đánh Buôn Ma Thuột, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Trong quá trình chuẩn bị, Sư đoàn đã thực hiện hành quân thần tốc bằng cơ giới và giữ bí mật tuyệt đối không mở máy thông tin khiến trinh sát địch hoàn toàn mất dấu vết.
Sứ mệnh của “người mở đường” đơn vị “Công binh là đơn vị đi trước, về sau”. Bộ đội phải mở đường, phá mìn, tạo “cửa mở” ngay dưới làn hỏa lực điên cuồng của địch để xe tăng và bộ đội chủ lực tiến vào. Giữa làn mưa bom bão đạn, những người lính trẻ đã lấy thân mình mở lối, góp phần tạo nên “đột phá chiến lược”, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở Tây Nguyên.
Theo lời kể của bác Phiệt: Nhiệm vụ của lính Công binh tại Tây Nguyên vô cùng hiểm nguy. Tại trận then chốt Buôn Ma Thuột, các đơn vị Công binh dưới sự yểm trợ hỏa lực của hiệp đồng binh chủng Bộ binh phải lao lên dưới làn hỏa lực mạnh để phá rào, mở “cửa mở” cho bộ binh và xe tăng tiến vào. “Bộ đội ta hy sinh rất nhiều” do địch phản kháng dữ dội bằng xe tăng, máy bay và pháo cối đánh thẳng vào đội hình. Sự ác liệt trên các trục đường chiến lược: Tại các điểm nóng như đường số 19 và đường số 7 đoạn qua Phú Bổn, khi quân ta thực hiện bao vây và truy kích Quân đoàn 2 địch rút chạy, các cuộc đọ súng đã diễn ra liên tiếp. Sự hy sinh của các chiến sĩ không chỉ xảy ra trong các trận đánh trực diện, mà còn trong quá trình chốt chặn quyết liệt không cho địch rút chạy về đồng bằng. Lính quê Nghệ An hy sinh và bị thương rất nhiều, do dày đặc những làn khói bom đạn của địch cùng tiếng súng và pháo xe tăng làm cho ù tai, hạn chế tầm nhìn, khi tiến lên chỉ hô xung phong lấy thân mình ôm bộc phá áp vào các lô cốt, hàng rào kẽm gai để mở toang “cửa mở”, tạo nên đột phá khẩu chiến lược mở cửa cho bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Buôn Ma Thuật, góp phần quan trọng giải phóng Tây Nguyên.
Phá vỡ “cánh cửa thép” nơi cửa ngõ Sài Gòn
Rời Tây Nguyên, đơn vị của bác Phiệt thuộc Quân Đoàn 3 (Binh Đoàn Tây Nguyên) hành quân thần tốc về hướng Tây Bắc Sài Gòn, trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Tại vị trí tập kết đúng 17 giờ ngày 26/4/1975 quân ta được lệnh tổng công kích, các đơn vị đã hiệp đồng phối hợp chặt chẽ bao gồm 4 Quân đoàn, các đơn vị binh chủng chủ lực gồm: Binh chủng Tăng Thiết giáp, Đặc công, Công binh, Thông tin, Pháo binh, Không quân, Hải quân, với đẩy đủ các binh khí kỹ thuật cùng các đơn vị biệt động, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đã phối hợp đồng loạt tiến công trên 5 cánh quân, tạo nên thế gòng kìm chiến lược: Hướng Bắc bao gồm: Quân đoàn 1, (Binh Đoàn quyết Thắng), Hướng Tây Bắc: Quân Đoàn 3 bao gồm đơn vị của bác Phiệt, Hướng đông Nam: Quân đoàn 2 (Binh Đoàn Hương Giang), Hướng đông Quân đoàn 4 (Binh Đoàn Cửu Long), Hướng Tây và Tây Nam- Đoàn 232 và Sư đoàn 8 nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch, bao gồm mục tiêu căn cứ quan trọng Đồng Dù (Củ Chi) - “cánh cửa thép” bất khả xâm phạm được địch án ngữ để tử thủ.
Bác Phiệt kể lại với khí thế của người chiến thắng: Nhiệm vụ của Trung đội 3 vô cùng nặng nề: Phá tan hệ thống hàng rào kẽm gai dày đặc và các lô cốt tiền tiêu. Trong tiếng pháo gầm vang, tôi cùng đồng đội dũng cảm dùng bộc phá tấp thẳng vào lô cốt địch. Những tiếng nổ liên tiếp xé toang đêm tối, phá hủy các hỏa điểm, mở toang cánh cửa để binh đoàn chủ lực thọc sâu vào nội đô Sài Gòn, đập tan “cánh cửa thép” Đồng Dù. Đó là thời khắc lịch sử mà sự anh dũng của những người lính Công binh đã trực tiếp nghiền nát ý chí phản kháng của kẻ thù.
Đã là người lính, thì đâu cũng là mặt trận
“Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, chính quyền nguy quyền Dương Văn Minh dầu hàng vô điệu kiện, lá cờ Quyết chiến - Quyết thắng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng”. Nhưng với đơn vị của bác Lữ Văn Phiệt, cuộc chiến vẫn chưa dừng lại. Đơn vị được lệnh ở lại, huyện Bến Cát, Thủ Dầu 1, tỉnh Bình Dương để rà phá bom mìn con sót lại nhằm hồi sinh những mảnh đất chết, để cho Nhân dân nhanh chóng an cư lạc nghiệp ổn định cuộc sống sau chiến tranh.
Bi kịch ập đến vào tháng 7/1975, lúc đó mới 19 tuổi, bác dẫm phải mìn và mất đi 1 chân phải, đến năm 1977 bác được cấp trên cho chuyển ra Bắc nằm viện dưỡng thương đến năm 1979, dù là thương binh loại A, tỷ lệ thương tật 37%, bác vẫn tình nguyện ra biên giới phía Bắc bảo vệ Tổ quốc, nhưng không được cấp trên chấp thuận, và đến tháng 12/1979 được phục viên trở về với đời thường, bác Phiệt là một người hiền lành, chất phác, bác đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước, hiện nay vợ bác đã mất, bác đang ở một mình trong căn nhà đơn sơ được con cháu chăm nom tận tình, bác luôn khuyên bảo con cháu trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Trong quá trình chiến đấu bác được đơn vị tặng 2 tấm Bằng khen, và các giấy tờ XYZ, và giấy chứng nhận tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ,nhưng hiện nay do bảo quản không tốt, xã đội trước đây đã làm thất lạc hết giấy tờ, hiện nay còn lại duy nhất 1 thẻ Thương binh.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết sẹo trên cơ thể bác Phiệt và cả những ký ức bi tráng về đồng đội đã ngã xuống vẫn là bài ca về lòng yêu nước. Câu chuyện của bác không chỉ là ký ức cá nhân, mà là minh chứng hùng hồn cho trí tuệ và ý chí của dân tộc Việt Nam - dân tộc đã làm nên chiến thắng vĩ đại bằng máu xương và sự hy sinh cao cả của thế hệ cha ông./.